Những điểm mới của Luật Đầu tư công năm 2019

Thứ tư - 05/08/2020 08:14
Luật tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật về đầu tư công theo hướng thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan khác nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ, hiệu quả các hoạt động đầu tư công và nguồn vốn đầu tư công.
Với các nội dung thay đổi nhằm nâng cao tính công khai, minh bạch trong quản lý đầu tư công. Thay đổi cơ bản công tác lập kế hoạch và thẩm định chương trình, dự án đầu tư công, tiếp cận thông lệ tốt trên thế giới. Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với các luật liên quan trong quản lý đầu tư công. Đồng thời, nâng cao hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn nhà nước, phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh phân cấp, tăng cường trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan. Gắn liền với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế nói chung và cơ cấu lại đầu tư công nói riêng theo hướng sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực.
13 điểm mới của Luật, với nội dung như sau:
Thứ nhất, về giải thích từ ngữ: Luật đã thống nhất quy định khái niệm về Vốn đầu tư công để phù hợp với quy định tại Luật Ngân sách nhà nước. Cụ thể, vốn đầu tư công bao gồm: vốn ngân sách nhà nước; vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật. Đây là một thay đổi mang ý nghĩa rất quan trọng, dẫn tới thay đổi các quy trình, trình tự, thủ tục về dự án và kế hoạch đầu tư công, giúp đơn giản hóa quy trình, không còn phân biệt giữa các loại nguồn vốn của ngân sách nhà nước như trước đây.
Ngoài ra, Luật đã bổ sung khái niệm nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư và nhiệm vụ quy hoạch để phù hợp với Luật Quy hoạch và Luật Xây dựng.
Thứ hai, về đối tượng đầu tư: Luật bổ sung đầu tư phục vụ công tác lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố và điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch; Cấp bù lãi suất tín dụng ưu đãi, phí quản lý; cấp vốn điều lệ cho các ngân hàng chính sách, qũy tài chính nhà nước ngoài ngân sách; hỗ trợ các đối tượng chính sách khác theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Luật này cũng tách riêng việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập đối với dự án nhóm A, dự án quan trọng Quốc gia.
Thứ ba, về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án: Để nâng cao tính linh hoạt và trách nhiệm của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Luật quy định Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định chủ trương đầu tư nhóm A do địa phương quản lý.
Luật cũng quy định Hội đồng nhân dân các cấp quyết định chủ trương đầu tư cả dự án nhóm B, C và bổ sung quy định: "Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng nhân dân quyết định việc giao cho Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định chủ trương đầu tư dự án quy định tại khoản này phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển, khả năng tài chính và đặc điểm cụ thể của địa phương".

Thứ tư, về nhiệm vụ, dự án không phải quyết định chủ trương đầu tư: Luật quy định 05 nhiệm vụ, dự án không phải quyết định chủ trương đầu tư, gồm: Một là, nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư; hai là, nhiệm vụ quy hoạch; ba là, dự án đầu tư công khẩn cấp; bốn là, dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia; năm là, dự án thành phần thuộc dự án đã được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư.
Theo Luật Đầu tư công năm 2014, tất cả các dự án để được đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn phải được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư. Quy định này dẫn đến nhiều dự án có thể rất nhỏ hoặc cần triển khai gấp (các dự án đầu tư công khẩn cấp) vẫn phải tuân thủ quy định này. Do đó, Luật đã sửa đổi theo hướng quy định cụ thể một số trường hợp không phải quyết định chủ trương đầu tư nhằm bảo đảm linh hoạt trong điều hành nhưng vẫn giữ được sự chặt chẽ, hiệu quả đầu tư.
Thứ năm, về trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư và phân cấp thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn: Vốn ODA bổ sung thêm bước phê duyệt đề xuất dự án, tất cả dự án ODA phải trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề xuất dự án; vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật.
Luật đã đẩy mạnh phân cấp thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, đơn giản hóa quy trình, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án. Cụ thể: Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương được phân cấp thẩm định các dự án do mình quản lý. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ chủ trì thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn đối với các chương trình, dự án do Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ quyết định như: Chương trình mục tiêu quốc gia; Dự án quan trọng quốc gia; Chương trình đầu tư công do Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư; Dự án đầu tư công do Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư.
Thứ sáu, về trình tự, thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư: Luật bổ sung trình tự, thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án để tạo cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh dự án.
Thứ bảy, về trình, phê duyệt, giao, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn 05 năm và hằng năm: Luật đã đẩy mạnh phân cấp, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, tăng cường công tác hậu kiểm, rút ngắn các thủ tục hành chính, đổi mới phương pháp theo hướng linh hoạt, chủ động và hiệu quả.
- Về thời điểm phê duyệt kế hoạch đầu tư công trung hạn: Quốc hội quyết định tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa mới. Riêng đối với kế hoạch đầu tư công năm đầu tiên của giai đoạn sau, căn cứ vào dự toán chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển của năm đầu tiên, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp này.
- Về giao kế hoạch đầu tư công hằng năm: Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước năm sau theo tổng mức vốn và cơ cấu vốn đã được Quốc hội quyết định cho các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương.
Các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương phân bổ chi tiết mức vốn kế hoạch đầu tư vốn ngân sách trung ương năm sau, danh mục, mức vốn bố trí của từng dự án cho các cơ quan, đơn vị trực thuộc và Ủy ban nhân dân cấp dưới, gửi phương án phân bổ chi tiết cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Chính phủ và theo dõi thực hiện.
- Về điều chỉnh kế hoạch đầu tư công: Người đứng đầu các bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh kế hoạch đầu tư hằng năm vốn ngân sách trung ương giữa các dự án thuộc danh mục đã được cấp có thẩm quyền quyết định nhưng không vượt quá tổng mức vốn đã được cấp có thẩm quyền giao kế hoạch.
Thứ tám, về thời gian thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công: Luật Đầu tư công năm 2014 quy định các dự án được phép thực hiện và giải ngân trong thời gian 02 năm. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, tỷ lệ giải ngân của các dự án thường chậm do các nhà thầu thường đợi đủ hồ sơ, khối lượng để thanh toán một lần và tâm lý chờ đợi do được giải ngân 02 năm. Do đó, Luật chỉ cho phép giải ngân trong thời gian 01 năm, theo đó: “Thời gian thực hiện và giải ngân vốn kế hoạch đầu tư công hằng năm đến ngày 31 tháng 01 năm sau. Trường hợp bất khả kháng, Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với vốn ngân sách trung ương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với vốn cân đối ngân sách địa phương cho phép kéo dài thời gian thực hiện nhưng không quá 31 tháng 12 năm sau.
“Thời gian thực hiện và giải ngân vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước đến hết ngày 31 tháng 01 năm đầu tiên của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn sau”.
Thứ chín, về thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối: Để bảo đảm căn cứ cho các bộ, cơ quan, địa phương thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, Luật đã bổ sung quy định về số vốn dự kiến là: "Trước ngày 31 tháng 7 năm thứ tư của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị về việc lập kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn sau với tổng mức vốn đầu tư công dự kiến bằng tổng mức vốn đầu tư công của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước, thông báo tổng mức vốn đầu tư công dự kiến của các bộ,cơ quan trung ương và địa phương để làm căn cứ quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án giai đoạn sau".
          Thứ mười, về quyết định chủ trương đầu tư dự án có thời gian thực hiện kéo dài qua 02 kỳ Kế hoạch đầu tư công trung hạn: Để bảo đảm căn cứ để cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư dự án kéo dài qua hai kỳ kế hoạch, Luật đã bổ sung quy định: "Cơ quan, tổ chức, cá nhân và người đứng đầu tổ chức quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án có thời gian thực hiện trong 02 kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn liên tiếp. Tổng số giá trị tổng mức đầu tư của các chương trình, dự án phải thực hiện trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn sau không vượt quá 20% tổng số vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước của cơ quan trung ương, địa phương đó".
Thứ mười một, về lập, thẩm định, phê duyệt, giao kế hoạch vốn trung hạn và hằng năm vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư: Luật quy định các dự án sử dụng nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước phải tiến hành thủ tục đầu tư như các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Điều này dẫn đến các dự án sử dụng nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước dù chỉ rất nhỏ vẫn phải trình Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm. 
Luật cũng đã phân cấp quyết định việc giao kế hoạch vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư do các bộ, cơ quan trung ương và địa phương quyết định, chỉ gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Chính phủ,Quốc hội chứ không phải để quyết định như Luật Đầu tư công năm 2014.
Thứ mười hai, về hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư công: Để nâng cao tính công khai, minh bạch trong quản lý đầu tư công, Luật đã bổ sung quy định về Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư công. Theo đó, tăng cường theo dõi, giám sát, thanh tra, kiểm tra các hoạt động đầu tư công, sử dụng nguồn vốn đầu tư công thông qua đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đầu tư công, gắn với quá trình xây dựng Chính phủ điện tử và tiến tới Chính phủ số, góp phần tích cực vào việc chống thất thoát, lãng phí.
Thứ mười ba, về báo cáo đánh giá tác động môi trường: Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, tất cả dự án đầu tư công đều phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường trong quá trình trình cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư dự án. Trên thực tế, tại bước phê duyệt chủ trương đầu tư, các dự án đầu tư công chưa cần thiết phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường đầy đủ. Do đó, để phù hợp với thực tế, Luật đã sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 25 của Luật Bảo vệ môi trường như sau:“Quyết định chủ trương đầu tư dự án đối với các đối tượng quy định tại Điều 18 của Luật này trong trường hợp pháp luật quy định dự án phải quyết định chủ trương đầu tư.
Đối với dự án đầu tư công, cấp có thẩm quyền căn cứ đánh giá sơ bộ tác động môi trường để quyết định chủ trương đầu tư; căn cứ đánh giá tác động môi trường để quyết định đầu tư đối với các đối tượng quy định tại Điều 18 của Luật này. Chính phủ quy định chi tiết đối tượng, nội dung đánh giá sơ bộ tác động môi trường”./.
Đính kèm: Luật số 39/2019/QH14
       Nghị định Số: 40/2020/NĐ-CP
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Xếp hạng: 0 - 0 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết
Hướng dẫn thủ tục hành chính
Tra cứu văn bản
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây