Nghị quyết số 41/2017/QH14

Thứ sáu - 13/04/2018 03:36
Ngày 20/6/2017, cùng với việc thông qua Luật số 12/2017/QH14, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Nghị quyết số 41/2017/QH14 về việc thi hành BLHS số 100/2015/QH13 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14) và về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/Qh13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13, (say đây gọi là Nghị quyết số 41/2017/QH14) trong đó, xác định rõ những vấn đề sau đây:
1. Nghị quyết tuyên bố kể từ ngày 01/01/2018, BLHS số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (sau đây gọi là BLHS năm 2015), Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 có hiệu lực thi hành.
2. Nghị quyết quy định cụ thể việc thi hành BLHS năm 2015 trên cơ sở kế thừa các quy định của Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành BLHS và Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của BLHS số 100/2015/QH13 và các Bộ luật, Luật có liên quan, đồng thời, bổ sung những quy định mới liên quan đến nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật số 12/2017/QH14, cụ thể:
Thứ nhất, Nghị quyết quy định cụ thể về việc áp dụng BLHS, trong đó xác định rõ những trường hợp được áp dụng hồi tố, những trường hợp không được áp dụng hồi tố. Đặc biệt, Nghị quyết khẳng định kể từ ngày Luật số 12/2017/QH14 được công bố, tiếp tục thực hiện các quy định sau đây:
(1) Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội mà BLHS năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình; đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử. Trường hợp hình phạt tử hình đã tuyên đối với những người này nhưng chưa thi hành án, thì không thi hành nữa và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân.
(2) Đối với những người đã bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ nhưng chưa thi hành án mà đã chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì cũng không thi hành nữa và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân.
(3) Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi tảo hôn; báo cáo sai trong quản lý kinh tế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính; hành vi theo quy định của  BLHS năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm mà hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa.
(4) Đối với những trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của BLHS số 100/2015/QH13 theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 để khởi tố, điều ta, truy tố, xét xử mà Luật số 12/2017/QH14 không quy định là tội phạm nữa thì phải đình chỉ điều ra, đình chỉ vụ án (nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử). Nếu người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại. Trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
(5) Không xử lý về hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm không được quy định tại khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14 của BLHS năm 2015, đối với người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm các tội mà không được quy định tại khoản 2 Điều 14 của BLHS năm 2015; nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
Thứ hai, Nghị quyết quy định áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 để thi hành quy định tại các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác của Bộ luật Hình sự năm 2015 có lợi cho người phạm tội.
Thứ ba, Nghị quyết giao trách nhiệm cho Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao thực hiện nhiệm vụ sau:
- Giao Chính phủ, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định chi tiết về các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Mục 2 Chương XII của Bộ luật Hình sự năm 2015; quy định về việc định giá đối với hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng hoặc hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam; quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại điểm k khoản 2, điểm e khoản 3, điểm đ khoản 4 Điều 248, điểm i khoản 1, điểm n khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 249, điểm i khoản 1, điểm o khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 250, điểm p khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 251 và điểm i khoản 1, điểm n khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Giao Tòa án nhân dân tối cao thông qua tổng kết việc áp dụng pháp luật, giám đốc việc xét xử bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử các quy định về “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”, “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”; khi cần thiết, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử các điều, khoản, điểm khác trong Bộ luật Hình sự năm 2015.
Thứ ba, Nghị quyết có quy định chuyển tiếp về việc áp dụng pháp luật trong thời gian từ khi Nghị quyết có hiệu lực thi hành (05/7/2017) đến khi Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13 và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (01/01/2018).
2. Kế hoạch của Chính phủ triển khai thi hành BLHS
Để triển khai thi hành Bộ luật hình sự số năm 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các Bộ, ngành hữu quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch của Chính phủ triển khai thi hành BLHS năm 2015.
Nội dung Kế hoạch triển khai thi hành BLHS năm 2015 tập trung vào 07 nhóm nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, rà soát các vụ án hình sự và đối tượng thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 để thực hiện việc đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân, miễn chấp hành hình phạt, xóa án tích cho người bị kết án
Thứ hai, biên soạn tài liệu phục vụ việc quán triệt, phổ biến, tuyên truyền, tập huấn.
Thứ ba, tổ chức quán triệt, tập huấn báo cáo viên phổ biến, tuyên truyền sâu rộng BLHS năm 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH17 trong nhân dân, cơ quan, tổ chức, lực lượng vũ trang, đặc biệt là những nội dung mới của Bộ luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật trong cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và trong nhân dân, qua đó, giúp cho mọi người nêu cao ý thức và trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật nói chung và BLHS nói riêng.
Thứ tư, tổ chức tập huấn chuyên sâu về BLHS năm 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong đó chú trọng cán bộ làm công tác điều tra, thi hành án hình sự trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân; cán bộ trong cơ quan Hải quan, Kiểm Lâm, Kiểm ngư trực tiếp làm nhiệm vụ điều tra, phục vụ điều tra tội phạm; cán bộ làm công tác điều tra, thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; cán bộ làm công tác xét xử, phục vụ xét xử; cán bộ làm công tác thi hành án dân sự, trợ giúp pháp lý; đội ngũ các luật sư và các đối tượng khác về những nội dung có liên quan của BLHS.
Thứ năm, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến BLHS đặc biệt là các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực và đề xuất sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, thay thế hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp với quy định của BLHS năm 2015.
Thứ sáu, xây dựng các văn bản của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành BLHS được giao tại Nghị quyết số 41/2017/QH14.
 Thứ bảy,  rà soát hệ thống giáo trình, tài liệu giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và chương trình, sách giáo khoa môn Giáo dục công dân cấp trung học phổ thông có nội dung liên quan đến Bộ luật Hình sự năm 2015 để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định mới của Bộ luật.
Về tiến độ thực hiện, Kế hoạch xác định về cơ bản các hoạt động phải hoàn thành trước ngày 01/01/2018 - ngày BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành. 
Xem toàn bộ nội dung Nghị quyết số 41/2017/QH14 tại đây

Nguồn tin: Phòng Tư pháp:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Xếp hạng: 0 - 0 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết
Hướng dẫn thủ tục hành chính
Tra cứu văn bản
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây